Bộ Nội vụ tiếp thu ý kiến của Bộ Chính trị, hoàn thiện dự thảo báo cáo trình Quốc hội về lộ trình và phương án cải cách tiền lương, Chính phủ yêu cầu.
Chính phủ giao Bộ Nội vụ báo cáo phương án cải cách chính sách tiền lương trước 16/9, theo Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8 vừa ban hành.
Bộ Nội vụ phối hợp với các địa phương đẩy mạnh tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại vị trí việc làm, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội theo dõi tình trạng lao động bị mất việc, thôi việc, giảm giờ làm, tạm hoãn hợp đồng hoặc nghỉ việc không lương để hỗ trợ đảm bảo ổn định đời sống cho họ.
Cán bộ Sở Tư pháp Hà Nội làm thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp cho người dân, tháng 4/2023. Ảnh: Ngọc Thành
Nghị quyết 27 Trung ương đặt mục tiêu cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp từ 1/7/2021. Hai năm qua, do nhiều tác động bất lợi, đặc biệt là đại dịch Covid-19, lộ trình cải cách đồng bộ chính sách tiền lương đến nay chưa được thực hiện.
Tại kỳ họp tháng 11/2022, Quốc hội yêu cầu Chính phủ năm 2023 trình cấp có thẩm quyền lộ trình cải cách chính sách tiền lương.
Lương công chức, viên chức được tính bằng lương cơ sở nhân hệ số lương. Từ ngày 1/7/2023 khi lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng thì mức lương cao nhất của công chức là 14,4 triệu đồng/tháng; mức thấp nhất là 2,43 triệu đồng/tháng.
Trong khi đó, lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng cho lao động tại các doanh nghiệp ở vùng 1 là 4,68 triệu đồng; vùng 2 là 4,16 triệu đồng; vùng 3 là 3,64 triệu đồng; vùng 4 là 3,25 triệu đồng.
Công ty chứng khoán VNDirect vừa có báo cáo phân tích thị trường tiền tệ với nhận định cần cẩn trọng với biến động của tỷ giá, lạm phát thời gian gần đây.
Lạm phát tăng trong tháng 8
Theo Tổng cục Thống kê, CPI của Việt Nam tăng 2,96% so với cùng kỳ trong tháng 8/2023, cao hơn mức tăng 2,06% trong tháng trước đó. So sánh theo tháng, CPI tháng 8 tăng 0,88% so với tháng trước, mức tăng hàng tháng cao nhất kể từ tháng 3/2022. Đà tăng mạnh của giá xăng dầu tháng vừa qua đã kéo chỉ số CPI nhóm giao thông vận tải tháng 8 tăng 3,85% so với tháng trước và là yếu tố gia tăng áp lực lên lạm phát. Trong khi đó, lạm phát cơ bản tăng 4,57% so với cùng kỳ trong tháng 8, giảm nhẹ so với mức tăng 4,65% tháng 7.
Lãi suất cho vay sẽ giảm mạnh hơn
VNDirect cho rằng lãi suất cho vay sẽ giảm rõ rệt hơn trong những tháng cuối năm. Trong tháng 8, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã giảm 0,5 điểm % so với cuối tháng 7 về mức 5,9%/năm (giảm gần 2 điểm % so với đầu năm 2023). Đà giảm của lãi suất huy động được thúc đẩy bởi tình trạng dư thừa thanh khoản hệ thống trong bối cảnh cầu tín dụng yếu cũng như Chính phủ mở rộng chính sách tài khóa.
Lãi suất cho vay có thể giảm mạnh hơn trong những tháng tới do chi phí vốn của các NHTM đang giảm nhờ: (1) tác động từ các đợt cắt giảm lãi suất điều hành của NHNN trong 6 tháng đầu năm và (2) NHNN ban hành Thông tư 02 cho phép giãn trích lập dự phòng nợ xấu. VNDirect kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay có thể giảm thêm 100-150 điểm cơ bản trong những tháng tới và tin rằng lãi suất cho vay giảm sẽ là yếu tố thúc đẩy sự phục hồi của tiêu dùng và đầu tư tư nhân.
Áp lực tỷ giá gia tăng
Về tỷ giá, áp lực tiếp tục gia tăng trong tháng 8 khi chỉ số sức mạnh đồng đô la (DXY) leo lên mức 104,8 điểm tại ngày 05/09/2023 (tăng 2,9% so với cuối tháng 7). Đà tăng được thúc đẩy bởi: (1) lo ngại về khả năng FED có thể tăng lãi suất điều hành thêm một lần nữa trong năm nay và (2) lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng cao trong bối cảnh Chính phủ Mỹ đẩy mạnh phát hành để bù đắp thâm hụt ngân sách.
Đồng USD mạnh lên đã gây áp lực lên tỷ giá tiền đồng, kéo tỷ giá USD/VND liên ngân hàng lên mức 24.073 tại ngày 05/09/2023 (tăng 1,6% so với cuối tháng 7 và tăng 1,9% so với đầu năm nay). Đồng thời, đồng USD cũng tăng giá so với hầu hết các đồng tiền trong khu vực từ đầu năm đến nay, bao gồm Thái Lan (2,5%), Trung Quốc (5,5%) và Malaysia (5,9%).
Đà tăng gần đầy của tỷ giá cũng có tác động trái chiều tới nền kinh tế. Tỷ giá tăng gây thêm áp lực trả nợ nước ngoài (nhất là khu vực tư nhân), đồng thơi, làm gia tăng áp lực lạm phát do giá nhập khẩu của nguyên liệu đầu vào và hàng hóa tiêu dùng tăng lên.
Do đó, áp lực tỷ giá càng lớn thì dư địa nới lỏng thêm chính sách tiền tệ trong nước càng thu hẹp. Dẫu vậy, NHNN vẫn sẽ những yếu tố hỗ trợ để ổn định tỷ giá trong năm nay, bao gồm: (1) thặng dư thương mại ở mức cao, (2) dòng vốn FDI và kiều hối ổn định, (3) nguồn cung ngoại tệ bổ sung từ thoái vốn cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Việc ổn định được tỷ giá trong biên độ phù hợp sẽ giảm thiểu được tác động tiêu cực và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam.
VNDirect cho rằng mức giảm giá vừa phải của VND so với USD dưới 3% sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu (tăng khả năng cạnh tranh của xuất khẩu Việt Nam). Ngoài ra, điều này ít có khả năng khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy mạnh ra khỏi Việt Nam.
VASEP: Đã có kết quả sơ bộ POR19 đối với cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ
Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), ngày 07/09/2023, Văn phòng Đăng ký liên bang Mỹ (Federal Register) đã công bố kết quả sơ bộ đợt xem xét hành chính lần thứ 19 (POR19) đối với cá tra phi lê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ giai đoạn từ 01/08/2021 - 31/07/2022.
Theo đó, hai doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam là CTCP Vĩnh Hoàn (HOSE: VHC) và CTCP Xuất nhập khẩu Thủy sản Cần Thơ (Caseamex, UPCoM: CCA) là bị đơn bắt buộc. Vĩnh Hoàn có thuế là 0, Caseamex là 0.14 USD/kg. Các doanh nghiệp khác cũng hưởng thuế 0.14 USD/kg là CTCP Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia - IDI (HOSE: IDI), CTCP Thủy sản Cafatex, CTCP Thủy sản Lộc Kim Chi và CTCP Hùng Vương (UPCoM: HVG). Mức thuế sơ bộ POR19 giảm so với kết quả cuối cùng của POR18 trước đó.
VASEP cho biết thêm, với mùa lễ hội cuối năm, tồn kho giảm dần, kết quả tích cực sau đợt thanh tra của FSIS sẽ tạo tâm lý tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Mỹ trong những tháng cuối năm.
Xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Mỹ sau 10 năm tăng 41%
Mỹ là một trong những thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam nhiều nhất. Sau 10 năm thiết lập quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam sang cường quốc này năm 2022 đạt 537 triệu USD, tăng 41% so với năm 2013.
Mặt khác, Mỹ cũng là thị trường đứng số 1 về tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam trong hai năm 2015 và 2016, sau hai năm Việt Nam - Hoa Kỳ thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện vào năm 2013. Kể từ 2019, Mỹ duy trì là thị trường nhập khẩu cá tra đứng thứ 2 sau Trung Quốc và Hồng Kông, chiếm tỷ trọng khoảng 22%.
Tuy nhiên, Mỹ là thị trường không mấy lạc quan của cá tra Việt Nam trong những tháng đầu năm 2023, do lạm phát, kinh tế suy giảm, đặc biệt là tồn kho cao do thị trường này nhập khẩu nhiều vào nửa đầu năm 2022. Tính tới ngày 15/08/2023, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Mỹ đạt 169 triệu USD, giảm 59% so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn: VASEP
Trong 6 tháng đầu năm nay, giá xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Mỹ dao động ở mức 2.97-3.45 USD/kg. Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sản phẩm cá tra phile đông lạnh; cá tra cắt miếng/ cắt khúc đông lạnh; cá tra tẩm bột đông lạnh; khô cá tra phồng, da cá tra chiên sang thị trường Mỹ.
Top 3 doanh nghiệp đứng đầu Việt Nam về xuất khẩu cá tra sang Mỹ bao gồm: Vĩnh Hoàn, Thủy sản Biển Đông, Vạn Đức Tiền Giang; chiếm tỷ trọng giá trị lần lượt là 51%, 18% và 11%.
Ngày 11-9, tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Báo Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan của tỉnh Đắk Lắk và các đơn vị thuộc Bộ NN-PTNT tổ chức diễn đàn nhận diện thực trạng liên kết tiêu thụ, xuất khẩu sầu riêng Việt Nam.
Diễn đàn nhận diện thực trạng liên kết tiêu thụ, xuất khẩu sầu riêng Việt Nam
Theo ban tổ chức, Việt Nam hiện có hơn 112.000 ha sầu riêng, diện tích đã tăng nhanh trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm tăng gần 25%. Tổng sản lượng hiện nay khoảng 900.000 tấn.
Sau khi được Trung Quốc chính thức chấp thuận nhập khẩu chính ngạch, ngành hàng sầu riêng Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ với kim ngạch xuất khẩu năm 2023 dự kiến đạt trên 1,5 tỉ USD.
Tuy nhiên, hiện nay hiện tượng tranh mua, tranh bán, loạn giá, bẻ cọc, bỏ hợp đồng, phá vỡ chuỗi liên kết… đang diễn ra tại các vùng trồng sầu riêng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến vi phạm các quy định của nhà nước về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, an toàn thực phẩm cũng như tiêu chuẩn xuất khẩu. Nguy cơ làm suy giảm uy tín, chất lượng, thương hiệu sản phẩm sầu riêng Việt Nam trên thị trường thế giới.
Phát biểu tại diễn đàn, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, bức xúc của ngành nông nghiệp nói chung và sầu riêng nói riêng.
Bộ trưởng cho hay, khi vừa ký nghị định thư về xuất khẩu sầu riêng chính ngạch sang Trung Quốc, ông đã hình dung được câu chuyện sau đó, lường trước được những khó khăn. Và câu chuyện sầu riêng, chanh dây… hiện cũng đang vào giai đoạn khó khăn.
"Câu chuyện sầu riêng không phải là câu chuyện lạ đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Trước đó, có rất nhiều ngành hàng tiềm năng như vú sữa Lò Rèn… xuất khẩu sang Mỹ rất háo hức nhưng đã rơi vào bi kịch vì chúng ta nghĩ thời cơ nhiều hơn là nhận diện thách thức" - ông Lê Minh Hoan chia sẻ.
Giá sầu riêng hiện tăng mất kiểm soát gây ra nhiều hệ lụy
Cũng theo Bộ trưởng, chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn thể hiện qua "hợp tác - liên kết - thị trường". Do đó, muốn ngành hàng sầu riêng nói riêng, các ngành hàng khác nói chung phát triển, phải tổ chức lại cấu trúc ngành hàng bền vững. Trong đó, phải có sự hiện diện của cả sản xuất và tiêu thụ, nghĩa là có nông dân và doanh nghiệp. Tổ chức lại sản xuất không đơn thuần chỉ là cải tiến kỹ thuật gieo trồng mà là tạo ra không gian để nông dân, doanh nghiệp ngồi lại với nhau.
Bên cạnh đó, đã đến lúc siết chặt quản lý nhà nước. Siết chặt ở địa phương không có nghĩa là Bộ NN-PTNT thoái thác trách nhiệm vì ngành hàng sầu riêng là hình ảnh của nền nông nghiệp Việt Nam.
"Các doanh nghiệp cũng cần thấm nhuần tư tưởng kinh doanh, buôn bán sầu riêng không chỉ vì lợi nhuận mà còn là trách nhiệm với nền nông nghiệp quốc gia. Từ đó, chuyển từ quan hệ thuận mua vừa bán sang quan hệ hợp tác. Phải tạo được sự kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp, HTX, hộ sản xuất với nhau. Phải quyết tâm giải quyết cho được vấn đề "nông dân tư duy mùa vụ, doanh nghiệp tư duy thương vụ, chính quyền tư duy nhiệm kỳ" - Bộ trưởng Bộ NN-PTNT nhấn mạnh.
Đó là nhận định của PGS.TS Vũ Minh Khương, Giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore khi trao đổi với PV VietNamNet về những giải pháp đưa đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng.
Cần đầu tư lớn cho tàu điện ngầm
PGS.TS Vũ Minh Khương cho biết, vấn đề tàu điện ngầm là điều ông rất thôi thúc khi nói đến sự phát triển của đất nước.
PGS.TS Vũ Minh Khương. Ảnh: Nhật Bắc
Là người sống và hiểu về sự phát triển của Singapore, ông Vũ Minh Khương khẳng định: “Tôi thấy giá trị của tàu điện ngầm là vô giá. Khi về Hà Nội, TP.HCM, tôi thấy muốn tăng trưởng GDP bao nhiêu %, muốn thu hút vốn đầu tư nhiều hơn nữa cũng khó bởi vì ách tắc quá”.
Ông tính toán, mỗi giờ lao động của người Việt Nam là 3 USD thì bình quân mỗi người ra đường sẽ mất thêm 1 giờ vì ách tắc, tức là mất 3 USD. Con số này nhân lên mỗi năm Việt Nam mất gần 3 tỷ USD vì chờ đợi do tắc đường.
“Nếu có phương tiện giao thông để đi nhanh hơn 1 giờ mà có mất 3 USD cũng không sao. Nhưng nếu để tình trạng này, ngoài việc làm ùn tắc giao thông, không thể nào đi nhanh được còn nhiều tác động khác như ô nhiễm không khí, gây ức chế cho người đi đường,... Phí xã hội thật sự của tình trạng này còn hơn thế rất nhiều”, PGS.TS Vũ Minh Khương phân tích.
Hình ảnh tắc đường kéo dài trong giờ cao điểm thường xuyên diễn ra tại Hà Nội và TP.HCM. Ảnh: Hoàng Hà
Theo Giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, các nước phát triển để đi đến phồn vinh, bao giờ họ cũng ưu tiên hàng đầu cho hệ thống giao thông đô thị và tàu điện ngầm.
“Có tàu điện ngầm, tự nhiên sẽ có không gian để phát triển đô thị và tài chính sinh sôi nảy nở ra từ đó”, ông nêu kinh nghiệm từ các nước phát triển.
Ông Vũ Minh Khương lấy giá được cho là đắt nhất 150 triệu USD/km thì Việt Nam cũng chỉ mất 20 – 30 tỷ USD để làm tàu điện ngầm. Con số này với Việt Nam là trong tầm tay.
“Tôi hay lấy hình ảnh của Bangladesh, họ nghèo khổ lắm nhưng khi họ dốc sức làm tàu điện ngầm đi rất nhanh. Bangladesh đến 2030, họ làm được 130km tàu điện ngầm . Cứ tàu điện ngầm tới đâu là dân họ vỗ tay vang dậy đến đấy”, ông Vũ Minh Khương kể.
PGS.TS Vũ Minh Khương tiếp tục nêu kinh nghiệm các nước, thường chỉ mất 4 - 5 năm đầu làm nhanh thì sẽ có được 10 – 20 km tàu điện ngầm; từ năm thứ 6 trở đi, cứ mỗi năm sẽ thấy có một hệ thống mới khai trương, dân họ phấn khởi lắm.
“Điều đó làm tôi suy nghĩ lắm. Một đất nước không làm được tàu điện ngầm cho những thành phố lớn của mình thì không thể đi được xa. Còn kêu gọi đầu tư nước ngoài vào thì chỉ như người có nhà mặt tiền cho thuê. Mở ra cho họ làm, cũng tăng trưởng, xuất khẩu các thứ nhưng của cải chưa thật sự làm ra từ bàn tay khối óc, ý chí của mình để tạo ra sự thay đổi căn bản”, ông trăn trở.
Vì vậy, PGS.TS Vũ Minh Khương tha thiết đề nghị Chính phủ đầu tư lớn cho tàu điện ngầm, đặc biệt là TP.HCM phải đầu tư nhanh, toàn lực, cử những cán bộ giỏi nhất làm và không để thiếu tiền.
Xe máy, ô tô có thể đi sau nhưng điện gió cần quyết chiến chiến lược
Ngoài vấn đề về hạ tầng giao thông, PGS.TS Vũ Minh Khương cũng cho rằng, Việt Nam cần nắm bắt xu thế của thời đại, đặc biệt là ở cách mạng xanh và cách mạng số, hai lĩnh vực sẽ định hình nền kinh tế trong 2-3 thập kỷ tới.
Vì vậy, việc Việt Nam - Singapore ký kết bản ghi nhớ về Quan hệ Đối tác Kinh tế số - Kinh tế xanh trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Phạm Minh Chính vào tháng 2 vừa qua là một bước đi có tính nền tảng và cũng thể hiện được tầm chiến lược của Việt Nam.
Bởi đến nay, Singapore mới tiến hành những hợp tác này ở bước khởi đầu với một số ít quốc gia phát triển và vẫn đang ở giai đoạn thăm dò.
"Chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa qua đã nắm bắt được cơ hội này", PGS.TS Vũ Minh Khương nhấn mạnh.
Mới đây, trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, hai bên đã nhất trí triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác Kinh tế xanh-Kinh tế Số, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng sạch, đổi mới sáng tạo.
Trong thời gian tới, ông cho rằng Chính phủ cần tiến tới ký kết được Hiệp định về Kinh tế xanh và Kinh tế số với Singapore. Từ đó sẽ tạo những hành lang thông suốt hơn để hai bên có thể thực hiện được.
Trong kinh tế xanh thì hợp tác với Singapore để sản xuất năng lượng tái tạo và hòa nhập vào mạng điện chung của Việt Nam cũng như xuất khẩu sang Singapore trong thời gian tới.
“Ví dụ trước năm 2030 chẳng hạn, chúng ta có những năng lực rất lớn sản xuất năng lượng gió trên biển, Singapore có kinh nghiệm, tài chính và họ có thể bao tiêu khi Việt Nam xuất khẩu sang”, ông Khương nói.
Theo PGS.TS Vũ Minh Khương, Singapore có độ tin cậy, tín nhiệm quốc gia rất cao, tín nhiệm của công ty cũng rất cao. Họ phát hành trái phiếu có giá trị 3% cho nền năng lượng xanh rất đơn giản.
Vì vậy, PGS.TS Vũ Minh Khương gợi mở, trong thời gian một hoặc hai thập kỷ tới, Việt Nam nên tập trung toàn lực để tạo ra một ngành mạnh nhất ở khu vực cũng như thế giới, để cạnh tranh, cung cấp năng lượng cho các nước từ châu Phi đến Nam Á, đến các nước.
Đặc biệt đầu tư điện gió trên biển vừa bảo vệ an ninh trên mặt biển, vừa tạo ra năng lực biến những tài nguyên thiên nhiên vô tận thành năng lượng cho quốc gia và có thể sản xuất thiết bị, các linh kiện, phụ kiện.
“Xe máy, ô tô hay những lĩnh vực khác chúng ta có thể đi sau, gác lại nhưng vấn đề năng lượng thì cần quyết chiến chiến lược. Tôi cho rằng cuộc 'cách mạng xanh' này là rất quan trọng”, PGS.TS Vũ Minh Khương nhấn mạnh.
Ông lưu ý, vấn đề kinh tế xanh, kinh tế số đã đặt thành một mũi nhọn chiến lược nhưng lại chưa dốc sức để tạo ra đột phá. Trong khi xây dựng hai lĩnh vực này là xây dựng sức mạnh chiến lược của Việt Nam trong tương lai. Đây là những vấn đề Việt Nam có thể đi đầu và có thể trở thành những nhà hoạt động hàng đầu.
Ngày 29/8 vừa qua, đoàn tàu đầu tiên của tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên chính thức chạy thử nghiệm toàn tuyến đi qua 14 nhà ga với 2,6km đi ngầm và 17,1km trên cao.
Dự án Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên có tổng chiều dài 19,7km với 14 nhà ga, 3 ga ngầm và 11 ga trên cao, có tổng mức đầu tư sau khi được điều chỉnh là 43.700 tỷ đồng. Dự án có lộ trình đi qua các quận 1, 2, 9, Bình Thạnh, Thủ Đức (TP.HCM) và Dĩ An (Bình Dương). Hiện nay, toàn bộ dự án đã thi công đạt gần 96% khối lượng công việc.
Tháng 5/2022, toàn bộ 17 đoàn tàu Metro số 1 đã được nhập khẩu từ Nhật Bản về Việt Nam. Theo thiết kế, mỗi đoàn tàu metro có 3 toa, mỗi toa dài 61,5m, có thể chở 930 khách. Tốc độ tối đa theo thiết kế là 110 km/h (đoạn trên cao) và 80 km/h (đoạn hầm).